Bản đồ tour Bắc Bộ
   
Vĩnh Phúc
Tour du lịch
Văn hóa - Lễ hội


VĨNH PHÚC


Vĩnh Phúc là mt tnh vùng đng bng sông Hng, Vit Nam. Vĩnh Phúc là mt trong các tnh thành to nên vùng th đô Hà Ni. Theo kết qu điu tra dân s 01/04/2009 dân s tnh Vĩnh Phúc là 1.000.838 người. Trong quy hoch xây dng, tnh này thuc vùng Hà Ni

Địa lý

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía bắc, có tọa độ: từ 21° 08’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 21°19' (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) vĩ độ bắc; từ 105° 109’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105°47’ (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ đông. Diện tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km², dân số 1.014.488 người, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc với 113 xã, 24 phường và thị trấn. Vĩnh Phúc nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo.

  • Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo.


Khu du lịch Tam Đảo

  • Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô.
  • Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng.
  • Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội.

Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè.


Hành chính

Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện

  • Thành phố Vĩnh Yên 7 phường và 2 xã (được nâng cấp từ thị xã Vĩnh Yên ngày 29/12/2006)
  • Thị xã Phúc Yên 6 phường và 4 xã
  • Huyện Bình Xuyên 3 thị trấn và 10 xã
  • Huyện Lập Thạch 2 thị trấn và 18 xã
  • Huyện Sông Lô 1 thị trấn và 16 xã (tách ra từ huyện Lập Thạch cũ kể từ ngày 23/12/2008)
  • Huyện Tam Dương 1 thị trấn và 12 xã
  • Huyện Tam Đảo 1 thị trấn và 8 xã
  • Huyện Vĩnh Tường 3 thị trấn và 26 xã
  • Huyện Yên Lạc 1 thị trấn và 16 xã

Tỉnh Vĩnh Phúc có 137 đơn vị cấp xã gồm 13 phường, 12 thị trấn và 112 xã

Do đặc điểm vị trí địa lý Vĩnh Phúc có ba vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi; liền kề với thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài; có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông thuận lợi trên trục phát triển kinh tế của Việt Nam.

Danh sách các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc Vĩnh Phúc


Tên

Diện tích

Dân số

Mật độ

Tên

Diện tích

Dân số

Mật độ

Vĩnh Yên

50,81

95.682

1.883

Bình Xuyên

145,67

109.472

752

Phúc Yên

120,13

92.575

771

Yên Lạc

106,77

146.382

1.371

Lập Thạch

173,10

119.461

690

Vĩnh Tường

141,90

190.646

1.344

Tam Dương

107,18

95.322

889

Sông Lô

150,32

89.173

593

Tam Đảo

235,88

69.624

295

Ghi chú: đơn vị diện tích: km²; mật độ: người/km². Nguồn: Niên giám thông kê Vĩnh Phúc năm 2010.[1]


Lịch sử


Biểu trưng tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng.

Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập vào năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Khi hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.715km², dân số 470.000 người.

Năm 1955 huyện Phổ Yên tách khỏi tỉnh Thái Nguyên nhập vào Vĩnh Phúc, đến năm 1957 lại trở lại tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 7-6-1957 thị trấn Bạch Hạc chuyển sang tỉnh Phú Thọ và hợp nhất với thị trấn Việt Trì để trở thành thị xã Việt Trì.

Ngày 20-4-1961 huyện Đông Anh (gồm 16 xã), xã Kim Chung của huyện Yên Lãng, thôn Đoài xã Phù Lỗ (phía nam sông Cà Lồ) của huyện Kim Anh tách khỏi Vĩnh Phúc chuyển về thành phố Hà Nội.

Ngày 26-1-1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết (ngày 26/11/1996) về việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997. Khi tách ra, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.370,73 km², dân số 1.066.552 người, gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Vĩnh Yên, và 5 huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo và Mê Linh.

Tháng 6-1998, tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và Bình Xuyên.

Ngày 9 tháng 12 năm 2003, lập huyện Tam Đảo mới.

Từ 1 tháng 8 năm 2008, huyện Mê Linh đã được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Bổ sung: Từ 1 tháng 4 huyện Lập Thạch tách làm 2 là: huyện Sông Lô và huyện Lập Thạch. Như vậy hiện Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 hành chính cấp huyện.


Danh nhân

  • Nguyễn Thái Học
  • Trần Nguyên Hãn
  • Vũ Hồng Khanh
  • Kim Ngọc
  • Nguyễn Viết Xuân


Thời tiết

Nhiệt độ trung hàng năm là 24°C, riêng Tam Đảo là 19 °C. Tam Đảo có nhiệt độ hàng ngày thấp hơn vùng đồng bằng bắc bộ là 5 °C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 24 °C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1300 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1400 mm, độ ẩm trung bình là 83%.


Đặc sản ẩm thực

Thịt bò tái kiến đốt, Rau Su su (Tam Đảo) Cá thính (Lập Thạch) Rượu dừa (Yên Lạc) Đậu rùa (Tuân Chính, Vĩnh Tường)


Kinh tế

Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông đang chuyển đổi cơ cấu.

  • Năm 1997 cơ cấu kinh tế là nông nghiệp 52%, dịch vụ 36%, công nghiệp 12%, thu ngân sách đạt gần 100 tỷ đồng.
  • Năm 2004 có cơ cấu kinh tế là công nghiệp (49,7%); dịch vụ (26,2%); nông nghiệp (24,1%);
  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8 năm (1997-2004) là 16,6%.
  • Năm 2006, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 9 trong các tỉnh thành trên cả nước về thu ngân sách với 4.027 tỷ đồng. Với hàng trăm doanh nghiệp trong nước và nước ngoài với tổng mức vốn đầu tư khoảng gần 600 triệu USD và 15.600 tỷ đồng, được đầu tư ở 14 cụm, khu công nghiệp, khu vui chơi, giải trí, du lịch trên khắp địa bàn.
  • Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây.
  • Cuối năm 2011 tỉnh có cơ cấu kinh tế là công nghiệp-xây dựng 56,03%, dịch vụ 30,23%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là 13,74%. Thu ngân sách 15.800 tỷ; thu nhập bình quân đầu người khoảng 2000 USD, tăng 15 lần so với năm 1997. Thu hút được 681 dự án, trong đó có 127 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 2.420,9 triệu USD và 554 dự án DDI, với tổng vốn đăng ký 32.829,8 tỷ.


Giáo dục

Trong những năm qua ngành giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc đã có những bước tiến vượt bậc, từ một tỉnh mới với mô hình giáo dục nhỏ nay Vĩnh Phúc đã có một số trường Đại học và Cao đẳng quy mô như trường ĐHSP Hà Nội II, trường CĐSP Vĩnh Phúc, CĐ Việt Đức và sắp tới đây sẽ có một số trường ĐH được xây dựng trên địa bàn tỉnh

Hình ảnh

Video
Địa danh
Nét độc đáo đình làng Thổ Tang và chùa Tùng Vân (Vĩnh Phúc)


 dinhthotangHình thành cách đây hơn 1.000 năm, làng Thổ Tang xưa và nay là thị trấn Thổ Tang thuộc huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) đã nổi tiếng là vùng đất nhiều nghề, giỏi giao thương buôn bán, cũng là vùng đất học, nhiều người đỗ đạt cao qua các thời kỳ. Ðây còn là nơi có cụm di tích lâu đời, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và nhiều ý nghĩa lịch sử như đình làng Thổ Tang, chùa Tùng Vân, đang trở thành điểm đến của nhiều tour du lịch trong nước và ngoài nước.

Là một trong những ngôi đình cổ nhất còn lại hiện nay của Vĩnh Phúc, đình làng Thổ Tang, xã Thổ Tang huyện Vĩnh Tường xây dựng vào thời Hậu Lê, khoảng thế kỷ 17 theo kiểu chữ đinh, quy mô khá bề thế, gồm phần hậu cung và một tòa năm gian hai dĩ. Ðình thờ Lân Hổ Ðô Thống Ðại Vương, vị tướng có công đánh giặc Nguyên Mông thời Trần. Di tích này là điển hình cho nghệ thuật kiến trúc đình làng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cũng tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc dân gian. Ðình đã được Bộ Văn hóa trước đây (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ghi vào danh mục di tích lịch sử văn hóa từ năm 1964 và năm 1990 được nhận bằng Di tích lịch sử văn hóa. Trong đình hiện còn lưu giữ được 21 bức chạm khắc gỗ độc đáo và hết sức tinh tế trên các thành phần kiến trúc: thân kẻ, thân bẩy, thân rường. Ðây là những di sản vật thể, minh chứng cho sự tài hoa và phồn thịnh của vùng đất học, đất nghề, đất giao thương với trăm miền.

Hằng năm, rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, mỹ thuật trong nước và ngoài nước cùng các đoàn sinh viên chuyên ngành văn hóa và nghệ thuật tạo hình đã về đây khảo sát, tìm hiểu nét kiến trúc của đình làng và những tác phẩm chạm trổ nghệ thuật trang trí tại đây. Tiêu biểu là bức chạm: Ngày hội xuống đồng, ở ngay hè đình, cạnh cửa ra vào, dài 1,35m, rộng 0,7m, miêu tả ngày hội xuống đồng thuở trước với nhiều nhân vật thuộc đủ các tầng lớp xã hội thu nhỏ trong một ngôi làng mà trung tâm là người đang cày ruộng với trâu, cho thấy một không khí ngày hội xuống đồng đầu năm tưng bừng. Bên cạnh gian đình trong phía phải là bức chạm Bắn hổ, thể hiện sức mạnh, sự mưu trí của con người chinh phục và làm chủ tự nhiên, ngay cả với những loài thú dữ. Bức chạm Ðá cầu tả cảnh đá cầu, được đặt ở ngách cột cái gian cạnh hình vuông, mỗi chiều dài 0,4m, thể hiện hình ảnh hai người đá cầu khá đẹp cùng những động tác vô cùng sống động. Thu hút sự quan tâm của du khách khi đến thăm đình là bức chạm Múa có kích thước 1,05m x 0,7m với hai người đang trong động tác múa uyển chuyển, đầu chít khăn, tay cong xòe rộng; một người ngồi xem tay vuốt râu, dưới là một con rồng. Nhất là ba tầng chạm trổ tinh tế của cửa võng đình làng. Tầng trên chạm Cửu Long tranh châu. Tầng giữa chạm rồng chầu mặt nguyệt, hai bên có hai phượng đang bay cùng nhiều đao mác vần mây. Tầng dưới chạm lục tiên, cửu trùng, gai dứa rất đẹp mắt và sống động. Trên cửa vọng treo bức hoành phi Hòa Vi Quý (Hòa là quý). Bên trái cửa võng gần hậu cung còn có bức chạm cảnh sinh hoạt của đời sống nông thôn Việt Nam dài 1,4m, rộng 0,75m, thể hiện cảnh một gia đình với trung tâm bức chạm là hình ảnh một đôi trai gái đang tình tự. Bốn góc bức chạm tả các sinh hoạt trong cuộc sống gia đình: từ cảnh chồng đèn sách, vợ chăm con... Có thể nói, những bức chạm này không chỉ đạt tới độ điêu luyện trong kỹ thuật điêu khắc gỗ dân gian, từ bố cục, tạo dáng, đục bong chạm thùng mà còn mang những nội dung và triết lý nhân sinh sâu sắc.

Chùa Tùng Vân nằm trên địa bàn thị trấn Thổ Tang là ngôi chùa cổ, lớn nhất trong khu vực huyện Vĩnh Tường, được xây dựng cách đây 327 năm vào thời vua Lê Huy Tông và  cũng được ghi vào danh mục di tích văn hóa cấp quốc gia từ năm 1964 như đình Thổ Tang, được nhận bằng Di tích văn hóa cấp quốc gia năm 1992. Trải qua những thăng trầm, biến cố, chùa Tùng Vân đã nhiều lần được trùng tu và lần gần đây nhất là đợt khởi công tu bổ năm 2008. Trong chùa hiện vẫn lưu giữ nguyên vẹn nhiều bảo vật như chuông đồng, khánh đồng... và nhất là một số pho tượng bằng đất nung, trong đó có pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni có niên đại cách đây gần 300 năm. Khác với kiến trúc của nhiều ngôi chùa trong vùng, chùa Tùng Vân được xây dựng gồm bảy gian, hai dĩ với hệ thống kết cấu hàng trăm cột gỗ và đá.

Cùng với công cuộc trùng tu lại chùa, sắp tới, tại chùa sẽ khởi công chế tác pho tượng Ðức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni từ nguyên khối ngọc xanh nặng hơn 18 tấn, chiều cao 3,3 m, rộng 2,1 m, dày 1,2 m. Khối ngọc tạc tượng được cho là quý hiếm và lớn nhất trong các khối ngọc tìm thấy tại tỉnh Yên Bái và cũng là khối ngọc lớn nhất được tìm thấy tại nước ta đến thời điểm này. Ðại đức Thích Nguyên Cao, trụ trì chùa Tùng Vân cho biết: "Tượng Phật gồm pháp tòa và đài sen sẽ được tạc liền khối dựa theo nguyên mẫu của pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đất nung của chùa". Hiện tại, khối ngọc đã được vận chuyển về chùa Tùng Vân và một nhóm các nghệ nhân điêu khắc và chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực đá quý trong nước sẽ làm việc liên tục để hoàn thành pho tượng Phật đúng vào dịp cả nước kỷ niệm Ðại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vào tháng 10 tới. Nhóm tạc tượng đã đưa ra nhiều phác thảo, điều chỉnh nhiều lần mô hình tượng nhằm thể hiện được hình mẫu Ðức Phật đẹp và uy nghiêm nhất trên nền khối ngọc xanh quý hiếm.

Trong các di tích ở thị trấn Thổ Tang còn có đền Trúc Lâm xây dựng trên vùng rừng trúc xưa (thuộc khu nam). Theo ngọc phả ghi lại, đền Trúc Lâm cũng có từ thời Hậu Lê, kiến trúc nhỏ, kiểu tứ trụ chồng bồn. Ðền là nơi thờ cúng Lân Hổ hầu đô thống Ðại vương và thân mẫu Phùng Thị Dong. Ðền Trúc Lâm đã qua sáu lần tu sửa, bên trong còn lưu nhiều cổ vật quý giá, trong đó có một bức hoành phi và tám bản sắc phong thời kỳ nhà Nguyễn. Cùng với đình làng Thổ Tang, chùa Tùng Vân, đền Trúc Lâm đã tạo thành một quần thể di tích độc đáo, một điểm đến của du lịch văn hóa, tâm linh của Vĩnh Phúc.
Khách sạn
Ẩm thực
Tép Dầu Đầm Vạc: Đặc sản Vĩnh Phúc


 Đầm Vạc nằm trong hệ thống sông Hồng, nước hồ được lưu thông bởi hệ thống sông ngòi của Vĩnh Phúc. Trong quần thể các đầm, hồ có giá trị cảnh quan du lịch của Vĩnh Phúc thì Đầm vạc có một vị trí trang trọng.

Đầm Vạc nằm ở giữa trung tâm Thành phố Vĩnh Yên, có 23 nhánh chính tạo ra những hồ, lạch nhỏ có chu vi 14km2. Chiều rộng trung bình 1km, diện tích mặt nước rộng gần 500ha, đáy sâu nhất 4,5m, trung bình 3,8m. Vùng này xưa kia được rừng thiên nhiên bao bọc, lắm chim nhiều cá, để những đàn cò, vạc, bồ nông, mòng, két, le le về kiếm ăn. Nhưng nổi tiếng hơn cả ở Đầm Vạc là tép Dầu, một món ăn thông dụng được nhiều người yêu thích. Tép Dầu Đầm Vạc nổi tiếng đến mức từ đời trước truyền cho đời sau câu ca:


“Cỗ chín lợn mười trâu

Cũng không bằng tép Dầu Đầm Vạc”

Tép Dầu Đầm Vạc phần nhiều chỉ bằng cái lá tre, kích cỡ chiều dài của nó từ 5-7cm, chiều ngang chừng 1cm. Tép Dầu là loại cá không cần đầu tư nuôi thả cầu kỳ. Tép Dầu khi trưởng thành bụng đầy ắp trứng. Từ tháng 8 đến hết tháng 10, khi sương chiều như làn khói xanh lam mờ toả trên mặt hồ, tép Dầu làm một cuộc hành trình quanh hồ đề đẻ trứng nhân giống cho tương lai thì người ta đi bắt chúng. Nhưng tép Dầu không thể tiệt chủng vì hàng triệu trứng trong bụng sẽ kế tiếp vòng đời của chúng. Và con tép Dầu có trứng mới  là lúc ăn ngon nhất.  


Trước đây, nhiều người quanh vùng thường sinh sống bằng nghề bắt loại cá này. Mỗi người phải có một chiếc thuyền nhuyễn gỗ hay thuyền thúng đan bằng tre, một cái rổ đường kính độ 80 - 90cm, sâu  35 - 40cm, có một cáng tre trên miệng rổ để nhấc lên hạ xuống cho dễ, một thanh tre đực bổ tư dài 40 - 45cm và các con mồi như ếch, nhái, lươn, ốc... miễn là có chất tanh dễ khuyếch tán trong nước. Ngoài ra, còn phải có kinh nghiệm sông nước để biết chỗ nào trong đầm có nhiều tép Dầu. Người bắt tép Dầu ngồi trên sạp thuyền dùng thanh tre đực giập mồi nát trên mạn thuyền rồi bỏ vào rổ, hai tay thả rổ xuống nước sao cho cạp rổ chìm độ 10 cm, một tay giữ rổ, một tay khoắng mồi trong rổ cho tép ngửi thấy mùi thức ăn bơi tới, có khi cả đàn đến rất đông giằng cắn mồi. Lừa lúc tép ham ăn, người bắt nhanh tay, nhẹ nhàng nhấc rổ lên khỏi mặt nước hất tép trong rổ vào thuyền. Động tác hớt tép cứ làm liên tục như thế cho đến khi hết buổi. 


Cách chế biến tép dầu đơn giản. Thường có hai cách là kho và nấu canh. Trước khi kho hay nấu đều phải bóp bụng cá cho ra hết ruột rồi lấy nước muối pha loãng hòa nước nóng ấm rửa sạch sẽ. Tép Dầu thường nấu canh với dưa cải chua, dưa rau cỏ chua đồng Cốc hoặc mẻ. Đem kho cứng thì ngon hơn. Có thể kho với các loại rau quả tuỳ khả năng và sở thích của từng nhà, như dưa cải, cà bát muối, trám đen, dọc khoai sọ tươi hoặc đã phơi khô, nhất thiết phải kho bằng tương, nồi kho còn lót lá gừng tươi hoặc dăm lát gừng, tất cả đun nhỏ lửa đến cạn khô. Kho cách này, ăn vừa béo vừa bùi, vừa thơm, giữ được vị đậm, vị ngọt của loài tép này.


Hiện nay, tép Dầu Đầm Vạc vẫn xuất hiện trong các bữa ăn của nhiều gia đình, và là món ăn khoái khẩu được rất nhiều vị khách ở các nhà hàng sang trọng lựa chọn. Tép Dầu Đầm Vạc đã trở thành một đặc sản góp phần tạo nên thương hiệu cho điểm du lịch Vĩnh Yên và là món “ăn một lần có thể nhớ mãi”.



Độc đáo rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa, Vĩnh Phúc

0-aa1ruouduangochoaMột chủ cơ sở chế biến nông sản đã nghiên cứu sản xuất  thành công sản phẩm rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa độc đáo  và có chất lượng cao,  được người tiêu dùng ưa chuộng.
Anh Nguyễn Văn Họa, chủ Cơ sở thu mua chế biến nông sản Ngọc Hoa, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc, cho biết  rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa được chế biến từ các nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên, làm theo phương pháp cổ truyền lên men và bảo quản trong trái dừa còn nguyên giúp loại bỏ hoàn toàn độc tố có lợi cho sức khỏe.

Sau khi sơ chế phần vỏ, quả dừa được tiêm vào hỗn hợp gồm nếp cái và men theo một tỷ lệ nhất định hàn kín lại đem ủ cho đến khi có đủ hương cay nồng đặc trưng của rượu và vị thơm ngọt từ nước dừa.

Quả dừa làm rượu phải là dừa già của Bến Tre (lớp cùi dừa nhiều, hàm lượng dầu nhiều và thơm), đường kính quả từ 16-1 8cm, nặng từ 1,2 - 1,4kg. Nếp cái phải chọn loại căng tròn hạt mẩy. Men rượu là men cổ truyền của người Việt.

Rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa, khi đưa lên miệng thưởng thức có mùi thơm mát đặc trưng của hương dừa, khi uống có vị ngọt nhẹ, đặc biệt không gây cảm giác háo nước, đau đầu... Rượu rót ra ly có màu trắng ngà nhiều chấm xác dừa lơ lửng. Sản phẩm phù hợp cho mọi người, có thể dùng trong các bữa ăn hàng ngày hoặc các buổi tiệc.


Bản đồ hành chính

Hướng dẫn - Tư vấn

Đối tác

Dịch vụ khác

Nhân Kiệt

Tên đăng nhập:
Mật khẩu:
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Họ tên (*)
Địa chỉ
THÔNG TIN TÀI KHOẢN
Tên đăng nhập (*)
Mật khẩu (*)
Nhập lại mật khẩu (*)
Email (*)
Mã kiểm tra (*)
Tôi đồng ý sau khi đã đọc điều lệ sử dụng của website!!!(*)

CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DU LỊCH VN WIN

Trụ sở: 67/35 Đường số 38, Phường Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh.

Văn Phòng Giao Dịch: 60/ 35 Đường Tân Mỹ- P. Tân Phong, Quận 7- tp.Hồ Chí Minh.

MST: 0310707166

Điện Thoại: 083.7268996 -0903932747       Fax: 083.7268858

Website: www.vnwin.vn          Email: vnwin@vnwin.com

Đóng lại